"Ông bà cử" thất nghiệp nhiều hơn: Điều dễ hiểu

Ngày đăng: 24-07-2015 09:14

Những người có trình độ CĐ trở lên thất nghiệp nhiều hơn so với không có bằng cấp, là hệ quả của chính sách cởi mở trong tuyển sinh CĐ, ĐH.

Bằng cấp cao, thất nghiệp cao?

Trong bản tin cập nhật thị trường lao động quý I/2015 của Viện khoa học lao động và xã hội vừa được công bố, có chỉ rõ, trong 3 tháng đầu năm, cả nước có hơn 1,1 triệu người thất nghiệp, tăng 114.000 người so với cùng kỳ năm 2014. Con số đáng quan tâm đó là, tính theo trình độ chuyên môn, tỷ lệ thất nghiệp cao nhất nằm ở nhóm có trình độ cao đẳng chuyên nghiệp và cao đẳng nghề; tỷ lệ thất nghiệp thấp nhất nằm ở nhóm không có bằng cấp, chứng chỉ.

Trước thực trạng càng học lên bằng cấp cao thì tỷ lệ thất nghiệp lại càng lớn, trao đổi với Đất Việt, ngày 21/7, ông Nguyễn Anh Đức - Chủ tịch, Tổng giám đốc Smartcom, cho biết: "Cơ cấu lao động của Việt Nam có xu hướng dịch chuyển mạnh từ chỗ không qua đào tạo sang chỗ đã được đào tạo, có tay nghề và có trình độ cao hơn.

Thế nhưng, khi nền kinh tế qua một giai đoạn khó khăn kéo dài thì rõ ràng tỉ lệ thất nghiệp ở mọi lĩnh vực đều tăng chứ không riêng gì đối với người có trình độ, tay nghề hay là lao động không có bằng cấp. Nó không phản ánh việc học càng cao thì càng thất nghiệp. Chúng ta nhìn con số và cái tên thuần túy sẽ khiến chúng ta hiểu lầm và lo lắng.

Một thị trường lao động được đào tạo, có kiến thức hơn thì rõ ràng là một thị trường lao động có chất lượng hơn. Điều đó ta phải lấy làm mừng và tự hào".

Ông Đức cho rằng, nguyên nhân của vấn đề này do cả chủ quan và khách quan. Về khách quan mà nói, nền kinh tế Việt Nam trải qua một thời kỳ khủng hoảng kéo dài, và gần đây mới có chút dấu hiệu hồi phục. Số lượng doanh nghiệp ngừng hoạt động và giải thể trong các năm 2013, 2014 tăng rất mạnh, các doanh nghiệp còn tồn tại thì ít nhiều đều phải cắt giảm quy mô sản xuất, kéo theo cắt giảm quy mô nhân sự, hoặc chí ít thì cũng tuyển dụng ít đi.

Khu vực bị cắt giảm mạnh nhất trong những năm vừa qua là bất động sản, xây dựng, tài chính ngân hàng, dịch vụ. Đây là những ngành có sức cầu lớn nhất đối với nhân sự ở trình độ cao đẳng và đại học nói chung.

Chưa kể, sức sản xuất của nền kinh tế suy giảm, kéo theo sức cầu đối với lao động tốt nghiệp các trường cao đẳng nghề chuyên nghiệp cũng tụt xuống thấp. Khi sức cầu lao động trong nền kinh tế nói chung là giảm, dẫn đến sự ảnh hưởng trực tiếp tới nhóm lao động ở trình độ cao đẳng, đại học và thạc sĩ, đối tượng đầu vào chính của các doanh nghiệp.

Nếu so sánh tỉ lệ tăng trưởng GDP trong giai đoạn từ 2011 đến nay chỉ ở mức trên 5% với giai đoạn trước năm 2011 khi nền kinh tế tăng trưởng mạnh ở mức trung bình khoảng 7%; mà giai đoạn 2011 – 2015 là giai đoạn Việt Nam có thêm nhiều cử nhân cao đẳng, đại học và cả thạc sĩ hơn bất cứ giai đoạn nào trước đó gia nhập thị trường lao động thì việc dư thừa lao động có đào tạo là điều hoàn toàn dễ hiểu.

Những năm gần đây, những sản phẩm đó đã tốt nghiệp và ra nhập thị trường lao động, thì họ trở thành những người thất nghiệp “đã qua đào tạo” chứ không phải là những người thất nghiệp “không được đào tạo” như ở thời kỳ còn thắt chặt đối với đào tạo đại học, cao đẳng và thạc sĩ.
Tỷ lệ học ĐH, CĐ thất nghiệp nhiều hơn tỷ lệ người không có bằng cấp

Chính vì thế, tỉ lệ thất nghiệp của người có trình độ cao đẳng trở lên tăng cao hơn so với tỉ lệ người không có bằng cấp, chứng chỉ là hệ quả của chính sách cởi mở trong tuyển sinh cao đẳng, đại học và cao học mà thôi.

Và xét dưới góc độ cá nhân của những người lao động mà nói, khi đã được đào tạo và cũng đã đầu tư một khoản tiền nhất định để có được bằng cấp, chứng chỉ, thì dĩ nhiên họ cũng khó chấp nhận những công việc giản đơn, thu nhập thấp, nên khi mới tốt nghiệp họ chấp nhận một khoảng thời gian thất nghiệp nhất định để tìm kiếm cơ hội cũng là điều có thể hiểu được.

Còn những người không qua đào tạo thì không bao giờ kén chọn công việc. Họ sẵn sàng và chấp nhận làm bất cứ việc gì cho họ thu nhập, nên họ nhanh chóng xóa tên mình khỏi danh sách thất nghiệp hơn.
Theo Báo Đất Việt